Thứ Ba 02 Tháng Giêng 2018 - 02:07:05 CH

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của người Khmer ở Kiên Giang

Giá trị các di sản văn hóa phi vật thể Khmer ở tỉnh Kiên Giang vô cùng tinh túy đặc sắc, là nguồn tài nguyên nhân văn quý báu cần được trân trọng giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị. Nếu biết cách phát huy thì các di sản văn hóa phi vật thể Khmer không những tiếp tục được sứ mạng cao đẹp của mình trong việc bảo tồn nền văn hóa nghệ thuật cổ truyền, mà còn góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
I. Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể
Để tạo điều kiện cho việc phát triển và bảo tồn văn hoá dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách đúng đắn và phù hợp, góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của người dân. Riêng ở Kiên Giang, Nhà nước đã quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần cho đồng bào các dân tộc trong tỉnh, nhất là đối với người Khmer đã có những ưu đãi rất đặc biệt. Bằng chủ trương chính sách và sự đầu tư cụ thể, trong khoảng 10 năm gần đây, vùng biên giới và vùng đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Kiên Giang đã có những biến đổi quan trọng trên các mặt kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Đời sống của đồng bào Khmer ở Kiên Giang đã được cải thiện một bước đáng kể. Trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, có nhiều chủ trương đã được triển khai, nhất là việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể. Cụ thể như sau:

1. Bảo tồn ngôn ngữ, chữ viết, truyền thống giáo dục
Hiện trong toàn tỉnh có 5 trường dân tộc nội trú với tổng số học sinh là 1.369 em. Hàng năm, Sở Nội vụ đều mở lớp học tiếng Khmer cho cán bộ người Kinh theo học tiếng Khmer để thuận lợi trong giao tiếp. Hỗ trợ nghiệp vụ và tạo điều kiện cho các điểm chùa mở lớp học chữ Khmer cho con, em người dân tộc. Nhằm duy trì và phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào Khmer, hầu hết các chùa Khmer trong tỉnh đều mở lớp dạy chữ Khmer trong nhà chùa. Công tác vận động, tuyên truyền trong đồng bào dân tộc về xóa mù chữ, nâng cao dân trí được chú trọng hơn, chương trình dạy song ngữ cho con em đồng bào Khmer được quan tâm thường xuyên ở các trường dân tộc nội trú và một số chùa Khmer. Để bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu trong trong tỉnh, những năm qua ngành Văn hóa đã xuất bản và phát hành các ấn phẩm văn hóa – thông tin bằng tiếng dân tộc. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên tuyên truyền kịp thời đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Kiên Giang hàng ngày có phát sóng chương trình tiếng Khmer. Bộ đội Biên phòng có chương trình “Đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa thông tin tạo điều kiện cải thiện một bước đời sống văn hóa tinh thần cho đồng bào các dân tộc trên tuyến biến giới, biển đảo, vùng sâu, vùng xa”.

2. Việc bảo tồn và phát huy các loại hình nghệ thuật
Hàng năm, tỉnh Kiên Giang đã chi ngân sách tổ chức nhiều cuộc liên hoan, hội diễn văn nghệ quần chúng Khmer. Đoàn Nghệ thuật Khmer dàn dựng nhiều chương trình và tổ chức lưu diễn phục vụ nhân dân vùng sâu, vùng đông đồng bào dân tộc. Hàng năm, đã có nhiều lễ hội văn hóa dân tộc Khmer được tổ chức tại các địa phương như huyện Kiên Lương, Gò Quao, Châu Thành, Hòn Đất, Giồng Riềng, Thị xã Hà Tiên… Hiện nay, ở Kiên Giang tồn tại rất nhiều làn điệu dân ca với một sự phong phú, đa dạng hình thức thể hiện như đọc, ngâm, xướng âm, tụng, hò ru, đồng dao, hát múa… Điều này cho thấy nội lực bảo tồn di sản văn hóa dân tộc ở người Khmer rất mạnh mẽ và được duy trì tốt cho đến ngày nay. Hiện tại, toàn tỉnh có khoảng 30 đội văn nghệ quần chúng Khmer. Riêng đoàn nghệ thuật Khmer tỉnh mỗi năm phục vụ đồng bào trên 70 xuất diễn, thu hút khoảng 15 ngàn lượt người xem.
Ngành Văn hóa cũng biên soạn giáo trình dạy nhạc âm nhạc truyền thống Khmer. Một số chùa Khmer cũng được hỗ trợ dàn nhạc ngũ âm truyền thống chất lượng tốt để đảm bảo cho việc dạy và học. Chùa Rạch Sỏi và Trường Dân tộc Nội trú tỉnh đã mở được một số lớp dạy đánh nhạc ngũ âm. Năm 2010, Sở VHTTDL Kiên Giang tiến hành mở một lớp thí điểm truyền dạy nhạc cụ ngũ âm (Pưn pết) cho 15 học sinh dân tộc Khmer tại chùa Thôn Dôn, Phường An Bình, TP Rạch Giá.Việc đưa nhạc ngũ âm vào chương trình dạy nhạc cho học sinh Khmer sẽ góp phần bảo tồn và phổ biến âm nhạc dân gian Khmer một cách hiệu quả để từ đó giữ gìn vốn âm nhạc cổ truyền của dân tộc.

3. Bảo tồn và phát huy các phong tục tập quán trong việc cưới, việc tang và kinh nghiệm sản xuất của đồng bào
Thông qua việc ban hành và triển khai Quy định thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, đa phần người dân đã chấp hành tổ chức việc cưới, việc tang và lễ hội không trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc; như khắc phục được tình trạng tảo hôn. Các thủ tục chạm ngõ, ăn hỏi, rước dâu cần được tổ chức theo phong tục, tập quán; không phô trương hình thức. Thực hiện nghiêm quy định không mở nhạc hoặc tổ chức ca hát trước 06 giờ sáng; buổi trưa từ 12 giờ đến 13 giờ và sau 22 giờ đêm. Không sử dụng thuốc lá trong đám cưới. Trong việc tang, người qua đời được hỏa táng trong vòng 72 giờ kể từ khi qua đời. Về cơ bản đồng bào dân tộc thiểu số ở Kiên Giang đã xóa bỏ được các hủ tục mê tín lạc hậu như yểm bùa, trừ tà, lăn đường, khóc mướn và những nghi thức rườm rà khác. Hằng năm vào các ngày tết, lễ truyền thống, các sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng dân gian đều được tổ chức theo hướng vừa mang tính giáo dục, vừa bảo tồn được những nét đẹp văn hóa cổ truyền.
Đối với việc cưới, trong thời gian tới tỉnh Kiên Giang sẽ tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới. Chế giảm những điều phức tạp, như ca hát thâu đêm, tiệc tùng linh đình tốn kém, vận động các gia đình không nên gả con cho người nước ngoài vì mục đích kinh tế vụ lợi mà không dựa trên cơ sở tình cảm bền vững. Thực hành tiết kiệm song vẫn tiếp tục bảo tồn những nghi lễ và giá trị tốt đẹp trong lễ cưới của người Khmer Nam Bộ vẫn được đồng bào lưu giữ, trân trọng theo luật tục cổ truyền.
Còn đối với việc tang, hiện nay Kiên Giang đã có 45 lò hỏa táng trong các ngôi chùa Khmer. Tại các chùa, không chỉ phật tử Phật giáo Khmer qua đời được táng theo hình thức này mà chùa cũng tiếp nhận hỏa táng cho nhiều người dân tộc Kinh, Hoa muốn xin hỏa táng.

4. Bảo tồn và phát huy các Lễ hội truyền thống của đồng bào
Công tác tổ chức và quản lý lễ hội có nhiều chuyển biến tích cực, việc triển khai Quy ước thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và hoạt động tín ngưỡng tôn giáo nơi thờ tự, bài trừ hủ tục, mê tín, dị đoan… đã tạo được sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các tầng lớp nhân dân. Các lễ hội truyền thống tiêu biểu như: Lễ hội Chôl-Chnăm-Thmây, Đôl-Ta, Ok-Om-Bók của người Khmer luôn được các cấp chính quyền địa phương và cơ quan chủ quản quan tâm tạo điều hiện thuận lợi. Hàng năm tổ chức Ngày hội Văn hóa – Thể thao và Du lịch dân tộc Khmer vào tháng 10 âm lịch tại Gò Quao tạo nên bầu không khí vui tươi, lành mạnh, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Khmer.


Đua ghe Ngo truyền thống, mừng lễ Ok Om Bok của người Khmer tại huyện Gò Quao - tỉnh Kiên Giang

5. Đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa vùng đồng bào dân tộc, hỗ trợ các điểm chùa Khmer các phương tiện hoạt động
Các thiết chế văn hóa vùng đồng bào dân tộc Khmer từng bước được đầu tư, hoàn thiện. Về cơ bản đã đưa được các hoạt động văn hóa về cơ sở phục vụ cho đồng bào vùng sâu, vùng xa có đông đồng bào dân tộc Khmer. Hiện nay, nhiều xã đã có trung tâm văn hóa, nhà văn hóa, đội thông tin lưu động, nhà truyền thống, thư viện, đội văn nghệ quần chúng, bưu điện văn hóa xã... Ngân sách địa phương cũng đã cấp 5 tỉ đồng để xây dựng 5 trung tâm văn hóa làm mô hình thí điểm cho các xã Long Thạnh (Giồng Riềng), Tân Hiệp A (Tân Hiệp), Mỹ Đức (Hà Tiên), Đông Hưng A (An Minh), Vĩnh Hiệp (Rạch Giá).
Tỉnh đã hỗ trợ đầu tư đóng mới 23 ghe ngo và trang bị 08 dàn nhạc ngũ âm cho các chùa Khmer trị giá trên 2,5 tỷ đồng. Ngành Văn hóa Kiên Giang trong thời gian qua đã cấp hàng chục bộ âm thanh, nhạc cụ cho đội văn nghệ quần chúng ở các xã và chùa Khmer trong tỉnh, giúp đồng bào có điều kiện, phương tiện nhạc cụ để tập luyện và biểu diễn. Riêng Thành phố Rạch Giá đã đầu tư hơn 220 triệu đồng đóng 2 ghe ngo, khôi phục các đội văn nghệ dân tộc; Kiên Lương thành lập Đội Văn nghệ Khmer xã Bình An, đầu tư mua sắm trang thiết bị trị giá hơn 100 triệu đồng …
Các hoạt động văn hoá thể thao được tổ chức trong nhà chùa cũng khá phong phú, đa dạng. Đó là văn nghệ Rôbăm (kịch múa) Dùkê (kịch hát) Aday (hát đối) múa Lămthon, nhạc ngũ âm, trống Chhây yăm…. Thể thao có chơi cờ Ôc, nhảy bao, kéo co, bóng chuyền, đặc biệt là ghe ngo mang danh nghĩa của Chùa chứ không mang danh nghĩa của địa phương. Thanh niên trai tráng trong các Phum, Sóc thường được tập trung về chùa sau giờ lao động mệt nhọc, vui chơi giải trí sinh hoạt và tổ chức các hoạt động xã hội khác. Nhà chùa đã thực sự trở thành một Trung tâm sinh hoạt văn nghệ thể thao góp phần phát huy vốn văn hoá truyền thống trong XDĐSVH và nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của đồng bào.

6. Công tác sưu tầm, nghiên cứu
Để văn hóa truyền thống dân tộc Khmer được bảo tồn, phát huy tốt hơn, những năm qua, các công trình điều tra, sưu tầm, nghiên cứu và phát huy vốn văn hoá vật thể và phi vật thể của đồng bào dân tộc Khmer cũng được quan tâm thực hiện. Cụ thể, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chỉ đạo thực hiện các công trình nghiên cứu như sau: Phim tài liệu khoa học “Lễ tang, lễ cưới truyền thống của người Khmer”; Phim tài liệu “Lễ hội Okombok”- nét sinh hoạt văn hóa của cộng đồng người Khmer ở Kiên Giang (2007); Phim tài liệu: U Minh Thượng – nét đẹp văn hóa (2006); Sách nghiên cứu “Người Khmer trong cộng đồng dân tộc Việt Nam ở Kiên Giang”, Sách “Người Khmer ở Kiên Giang”. Năm 2012, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Kiên Giang cũng triển khai đề tài nghiên cứu khoa học: “Xây dựng mô hình Câu lạc bộ thanh niên Khmer học tập kỹ năng phát triển kinh tế gia đình và thực hiện nếp sống văn minh tại huyện Gò Quao”. Mục tiêu nhằm giúp thanh niên Khmer xã Định Hòa huyện Gò Quao nâng cao năng lực kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp để phát triển gia đình. Đồng thời biết cách tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí bổ ích, xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh, góp phần phát triển kinh tế xã hội. Kết quả đã thành lập được 1 mô hình Câu lạc bộ với 20 thành viên, từ mô hình thí điểm này mở ra triển vọng có thể nhân rộng ra các xã có đông đồng bào dân tộc Khmer trong tỉnh.

7. Đẩy mạnh phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa trong đồng bào dân tộc Khmer
Thực hiện phong trào “TDĐKXDĐSVH ở khu dân cư”, số hộ gia đình Khmer đạt chuẩn gia đình văn hoá ngày càng tăng. Thời gian qua các cấp uỷ Đảng, chính quyền đoàn thể đã tranh thủ ảnh hưởng của các vị Đại đức, hoà thượng trong chùa để tuyên truyền phổ biến khoa học kỹ thuật qua phương tiện truyền thanh, thư viện, từ đó phát huy phong tục tập quán, bảo tồn di sản van hoá vật thể và phi vật thể … Các vị sư Khmer đã gương mẫu vận động nhân dân, tín đố, phật tử giữ gìn nếp sống văn hóa trong khu dân cư, nêu cao tinh thần tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng, góp phần xóa đói, giảm nghèo; bài trừ các tệ nạn xã hội, các hủ tục lạc hậu; tích cực xây dựng quê hương giàu đẹp… Đến nay, có rất nhiều hộ gia đình Khmer trong tỉnh đã vươn lên thoát nghèo, bộ mặt nông thôn từng bước khởi sắc. Các gia đình ở Kiên Giang không chỉ cần cù mà còn dám nghĩ, dám làm, lao động sáng tạo vươn lên làm chủ cuộc sống. Ở Kiên Giang có hàng trăm hộ nông dân Khmer sản xuất kinh doanh giỏi, nhiều người giữ các trọng trách trong hệ thống tổ chức Đảng và Chính quyền. Xuất hiện ngày càng nhiều gia đình văn hóa ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc trong vùng đồng bào Khmer Nam Bộ ở Kiên Giang. Họ là những tấm gương mẫu thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, không ai vi phạm pháp luật và đã có nhiều đóng góp trong việc vận động đồng bào Khmer ở địa phương xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa.

II. Một số đề xuất và kiến nghị trong việc bảo tồn các giá trị di sản văn hóa phi vật thể của đồng bào Khmer ở Kiên Giang
Việc bảo tồn và phát huy tinh hoa của di sản văn hóa phi vật thể Khmer là một trong những phương cách cần thiết và tốt nhất để không bị hòa tan trong bối cảnh đất nước đang hội nhập và phát triển. Với tinh thần làm việc nghiêm túc, qua thực tế khảo sát và nghiên cứu, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:
- Bổ sung hoàn thiện các văn bản, chính sách về bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa phi vật thể dân tộc Khmer Nam Bộ ở Kiên Giang. Đề nghị Bộ VHTTDL cần sớm xem xét và ban hành Quy chế xét công nhận danh hiệu nghệ sĩ, phong tặng danh hiệu nghệ nhân… phù hợp với đặc điểm của dân tộc Khmer. Có chính sách ưu đãi, khuyến khích đối với những người tham gia vào hoạt động sáng tác tạo ra các sản phẩm văn hóa, văn nghệ, kiến trúc, mỹ thuật…
- Tăng thêm kinh phí và phương tiện hoạt động cho công tác bảo tồn - phát huy giá trị các loại hình di sản văn hóa phi vật thể Khmer ở Kiên Giang. Hỗ trợ kinh phí xây dựng đề án trọng điểm để khôi phục lại một số loại hình văn hóa, văn nghệ đang có nguy cơ bị mai một như: lễ cưới, trang phục truyền thống, các trò chơi dân gian, sân khấu Rô băm, Dù kê và một số loại nhạc cụ cổ truyền.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua mô hình truyền dạy, đào tạo lớp diễn viên, nghệ nhân kế thừa và tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu, thẩm định các loại hình nghệ thuật Khmer truyền thống. Cần có chính sách chế độ, cơ chế ưu đãi để thu hút cán bộ có trình độ chuyên môn về phục vụ tại vùng dân tộc thiểu số và có chính sách ưu đãi cho con em người dân tộc tham gia học các lớp chuyên ngành văn hóa nghệ thuật thường xuyên. Thường xuyên mở tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ người dân tộc Khmer làm công tác văn hóa thông tin. Cần có chính sách hỗ trợ đối với việc đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên có trình độ song ngữ về phục vụ con em đồng bào dân tộc. Nhất là đối với các vị sư sãi, giáo viên dạy chữ Khmer ngoài nhà trường.
- Đẩy mạnh công tác kiểm kê, sưu tầm, nghiên cứu xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu để lưu trữ lâu dài các loại hình di sản văn hóa phi vật thể Khmer ở Kiên Giang.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức của cán bộ và nhân dân trong việc bảo tồn và phát huy giá trị các loại hình di sản văn hóa phi vật thểKhmer. Đầu tư in sách, băng hình tiếng dân tộc Khmer nhất là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, kịch bản lễ hội để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu truyền thống của bà con dân tộc. Hỗ trợ kinh phí đưa văn hóa – văn nghệ, phim, ảnh… về cơ sở phục vụ, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa cho đồng bào dân tộc.
- Quan tâm, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển phong trào văn nghệquần chúng vùng đồng bào dân tộc Khmer trong tỉnh. Đầu tư xây dựng thiết chế văn hóa ở một số ngôi chùa trọng điểm và trang bị cơ sở vật chất như : loa truyền thanh, xe, thuyền thông tin lưu động… nhằm tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, cổ động trong đồng bào dân tộc.
- Đẩy mạnh công tác xã hội hóa việc bảo tồn và phát huy giá trị  các loại hình di sản văn hóa phi vật thể Khmer ở Kiên Giang. Để bảo tồn và phát huy giá trị các loại hình di sản văn hóa phi vật thể Khmer còn lại ở Kiên Giang hiện nay là điều không đơn giản và có rất nhiều việc phải làm. Đây là một yêu cầu, một nguyện vọng của nhân dân không thể bỏ qua. Công việc bảo tồn kế thừa loại hình di sản văn hóa phi vật thể Khmer có thể thực hiện dưới nhiều hình thức như sưu tầm, biểu diễn, dạy, học… công việc nào cũng quan trọng và đòi hỏi sự hợp sức của nhiều người.

Tóm lại, trong những năm qua, tỉnh Kiên Giang đã sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn của nhà nước và xã hội để thực hiện các chính sách đối với đồng bào Khmer. Điều đó không chỉ là động lực thúc đẩy sự phát triển mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh mà còn góp giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ các di sản văn hoá truyền thống bao gồm các loại hình văn hoá nghệ thuật như: Hội hoạ, kiến trúc, sân khấu, thơ ca, âm nhạc cổ truyền, truyện kể dân gian, hoạt động lễ hội… phù hợp với xu thế phát triển kinh tế hiện nay và để xây dựng nếp sống văn minh phù hợp với thời kỳ mới của đất nước.
Có thể khẳng định giá trị các di sản văn hóa phi vật thể Khmer ở tỉnh Kiên Giang là vô cùng tinh túy đặc sắc, là nguồn tài nguyên nhân văn quý báu cần được trân trọng giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị. Nó là sáng tác nghệ thuật của nhân dân lao động trong suốt chiều dài lịch sử. Do vậy di sản này có nhiều giá trị về mặt sáng tạo nghệ thuật dân tộc. Như vậy, nếu chúng ta biết cách phát huy thì các di sản văn hóa phi vật thể Khmer không những tiếp tục được sứ mạng cao đẹp của mình trong việc bảo tồn nền văn hóa nghệ thuật cổ truyền, mà còn góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
                                                               Bùi Công Ba
Nguồn: https://www.vhttdlkv3.gov.vn
Ý kiến phản hồi

Vui lòng gõ tiếng việt có dấu

Videos tiêu biểu

SMOT ស្តាយព្រះ ឧបជ្ឈាយ៍ យ័ញញឿង

SMOT ស្តាយព្រះ ឧបជ្ឈាយ៍ យ័ញញឿង

កំណាព្យ ស្ដាយ​ព្រះ ឧបជ្ឈាយ៍ និពន្ធនិងសម្ដែងដោយ ព្រះតេជគុណ យ័ញដុង​​ វត្តសិរីវង្សសូរិយាក្រួស​ - ក្រមួនស

កំណាព្យ ស្ដាយ​ព្រះ ឧបជ្ឈាយ៍ និពន្ធនិងសម្ដែងដោយ ព្រះតេជគុណ យ័ញដុង​​ វត្តសិរីវង្សសូរិយាក្រួស​ - ក្រមួនស

Phụ nữ Khmer TP.HCM họp mặt Tết Chol Chnăm Thmây 2018

Tết Chôl Chnăm Thmây mang ý nghĩa là đón mừng năm mới, mừng thêm một tuổi, tương tự như Tết Nguyên đán của người Việt, v...

Bài viết tiêu biểu

Đức Phật là Thầy chỉ đường

GN - Đức Phật dạy: “Hãy tự xem con là hải đảo của con, hãy tự xem con là nơi nương tựa của con. Không nên tìm nương tựa nơi ai khác” (Trường A-hàm, kinh Đại bát Niết-bàn), và Ngài cũng nói rõ: “Các con phải tự mình nỗ lực. Các đấng Như Lai chỉ là đạo sư” (Kinh Pháp cú, kệ 276).